Công cụ làm việc cá nhân



Bộ trưởng Bộ Tài chính Vũ Văn Ninh: Hoàn thiện môi trường tài chính Việt Nam trong hội nhập

Bài phát biểu của Bộ trưởng Bộ Tài chính Vũ Văn Ninh

tại Hội nghị Kinh tế đối ngoại

"Việt Nam : Ngôi sao đang lên ở châu Á"

 

Kính thưa Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Tấn Dũng
Kính thưa các quý vị

Trong những năm qua, Chính phủ Việt Nam đã đẩy mạnh công cuộc đổi mới một cách sâu rộng và đồng bộ về kinh tế, xã hội và bộ máy nhà nước. Với mục tiêu là thúc đẩy nền kinh tế phát triển nhanh, hiệu quả và bền vững; tăng trưởng kinh tế luôn đi đôi với thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội, gắn chặt với bảo vệ và cải thiện môi trường, nền kinh tế Việt Nam đã có những bước phát triển ổn định, vững chắc.

Những thành tựu đã đạt được trong phát triển kinh tế - xã hội đất nước có sự đóng góp tích cực của khu vực tài chính. Môi trường tài chính từng bước đổi mới và lành mạnh hoá, tiềm lực và khả năng tài chính quốc gia ngày càng được củng cố và phát triển. Chính sách tài chính - ngân sách, chính sách thuế, phát triển thị trường vốn, thị trường chứng khoán, thị trường dịch vụ tài chính đã động viên, huy động được các nguồn lực tài chính trong và ngoài nước để sử dụng có hiệu quả cho đầu tư phát triển, duy trì ổn định các cân đối vĩ mô.

I. NHỮNG KẾT QUẢ ĐÃ ĐẠT ĐƯỢC  

 Về chính sách tài chính ngân sách:

Luật Ngân sách nhà nước (sửa đổi) năm 2002 đã góp phần đổi mới hệ thống cơ chế quản lý NSNN, từng bước giải quyết tốt mối quan hệ giữa tích luỹ và tiêu dùng góp phần huy động đầu tư  xã hội; thực hiện quản lý an toàn dư nợ Chính phủ, dư nợ quốc gia. Cân đối ngân sách Nhà nước được điều hành nhất quán đảm bảo nguyên tắc tích cực, thúc đẩy tăng trưởng, góp phần giữ ổn định cân đối vĩ mô nền kinh tế, đảm bảo an ninh tài chính quốc gia.

Việc cải cách hành chính trong lĩnh vực tài chính - ngân sách được đẩy mạnh. Thực hiện đổi mới phân cấp, tăng quyền hạn và trách nhiệm cho các Bộ, cơ quan Trung ương và chính quyền địa phương các cấp. Thực hiện cơ chế trao quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm đối với các cơ quan hành chính, đơn vị sự nghiệp. Chính sách xã hội hoá các hoạt động sự nghiệp đã bước đầu phát huy hiệu quả, đã huy động được một bộ phận nguồn lực của xã hội để phát triển các sự nghiệp giáo dục, y tế, văn hoá, thể dục-thể thao. Công tác kiểm soát chi ngân sách qua kho bạc, hoạt động thanh tra, kiểm tra tài chính đã được tăng cường, thực hiện công khai minh bạch quyết toán và dự toán hàng năm.

Về  hoàn thiện chính sách thuế:

Sau 20 năm cải cách, đến nay Việt Nam đã hình thành hệ thống chính sách thuế khá đầy đủ, bao quát được hầu hết các nguồn thu, áp dụng thống nhất đối với mọi thành phần kinh tế và thích ứng với yêu cầu chuyển đổi nền kinh tế theo cơ chế thị trường. Hệ thống chính sách Thuế đã bao  gồm các sắc thuế cơ bản như: thuế giá trị gia tăng, thuế tiêu thụ đặc biệt, thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu, thuế thu nhập doanh nghiệp, thuế thu nhập cá nhân; thuế sử dụng đất nông nghiệp, thuế nhà, đất, thuế chuyển quyền sử dụng đất, thuế tài nguyên, thuế môn bài, các loại phí, lệ phí. Với hệ thống thuế tương đối hoàn chỉnh, thuế đã trở thành công cụ đảm bảo nguồn thu chủ yếu cho NSNN, là công cụ quản lý vĩ mô của nhà nước góp phần tích cực trong thúc đẩy sản xuất kinh doanh phát triển, khuyến khích đầu tư, khuyến khích xuất khẩu, đổi mới khoa học công nghệ, góp phần thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá. Tổng thu NSNN ngày càng tăng và có tốc độ tăng trưởng năm sau cao hơn năm trước, tỷ lệ động viên đạt khoảng 21%GDP, tốc độ tăng trưởng bình quân thu NSNN trong 5 năm từ 2002-2007 đạt 17,%. Có được kết quả này là do:

Thứ nhất, chính sách thuế được áp dụng thống nhất trong cả nước, không phân biệt thành phần kinh tế đã tạo môi trường kinh doanh bình đẳng, thúc đẩy sản xuất kinh doanh phát triển, tăng trưởng kinh tế.

Thứ hai, chính sách thuế đã hạ mức động viên vào NSNN tăng tích tụ vốn tại doanh nghiệp góp phần khuyến khích mạnh mẽ đầu tư, thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá.

Thứ ba, chính sách thuế đã góp phần khuyến khích xuất khẩu, cải thiện môi trường kinh tế vĩ mô.

Về cải cách khu vực doanh nghiệp nhà nước:

Đến nay, có thể nói quá trình cổ phần hoá và cải cách khu vực DNNN đã thu được những kết quả quan trọng. Khung pháp lý về sắp xếp, cổ phần hoá DNNN đã liên tục được hoàn thiện phù hợp với tiến trình cải cách, thúc đẩy công tác chuyển đổi sắp xếp và cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nước, đặc biệt là việc bán cổ phần lần đầu thông qua phương thức đấu giá đã xoá bỏ cơ chế cổ phần hoá khép kín trong doanh nghiệp.

Thực hiện chủ trương của Chỉnh phủ, cùng với việc tiến hành cổ phần hóa một số lượng lớn các DNNN, các doanh nghỉêp cũng đã thay đổi cách thức quản trị công ty, làm tăng hiệu quả kinh doanh của các doanh nghiệp và giảm gánh nặng cho NSNN. Hầu hết các doanh nghiệp cổ phần hoá được xác định giá trị và thực hiện bán đấu giá cổ phần lần đầu thông qua Sở Giao dịch chứng khoán, Trung tâm giao dịch chứng khoán và các tổ chức tài chính trung gian. Cách thức này không chỉ góp phần nâng cao tính khách quan, minh bạch của quá trình cổ phần hoá mà còn gắn kết hơn nữa quá trình cổ phần hoá với phát triển thị trường chứng khoán trong thời gian qua. Thông qua việc bán cổ phần ra bên ngoài, doanh nghiệp cổ phần hoá đã chủ động lựa chọn được nhà đầu tư chiến lược trong và ngoài nước để nâng cao hiệu quả doanh nghiệp.

Trong thời gian qua, đã có một số Tổng công ty lớn được cổ phần hoá như: Tổng công ty Xuất nhập khẩu xây dựng Việt Nam (Vinaconex), Tổng công ty Thương mại xây dựng, Tổng công ty Điện tử tin học, Tổng công ty Bảo hiểm... Một số tập toàn kinh tế lớn đã được hình thành như: Tập đoàn Dầu khí, Điện lực, Bưu chính viễn thông, Than Khoáng sản, Công nghiệp Tàu thuỷ, Dệt may, Công nghiệp cao su, Tập đoàn Tài chính Bảo hiểm Việt Nam. Một số doanh nghiệp và tổng công ty lớn cũng đã và đang hoàn tất việc cổ phần hoá như: Ngân hàng ngoại thương Việt Nam, Tổng công ty Rượu bia, nước giải khát Sài Gòn và Hà Nội... Trong năm 2008 và các năm tới, sẽ tiếp tục đẩy nhanh hơn nữa tiến trình này.
 
Phát triển thị trường vốn, thị trường chứng khoán

Sau 7 năm đi vào hoạt động, TTCK Việt Nam đã có những bước phát triển ổn định, vững chắc. Thị trường đã thực sự khởi sắc và phát triển khá ổn định trong hai năm gần đây tạo tiền đề cho bước phát triển tiếp theo. Thông qua TTCK hoạt động huy động vốn được tăng cường đóng góp tích cực cho việc phát triển doanh nghiệp và tăng trưởng kinh tế. Các chính sách, giải pháp đề ra qua quá trình áp dụng, điều chỉnh đã khẳng định sự nắm bắt và chủ động hơn trong điều hành thị trường gắn với hoạt động chung của nền kinh tế.

Về quy mô thị trường, đến nay đã có 250 công ty được cấp phép niêm yết, đăng ký giao dịch trên TTCK, tổng giá trị vốn hoá thị trường cổ phiếu trên cả 2 sàn giao dịch xấp xỉ 40% GDP. Nhìn chung, các doanh nghiệp sau cổ phần hoá và niêm yết trên TTCK luôn giữ được nhịp độ tăng trưởng và lợi nhuận khá tốt.

Các tổ chức trung gian hoạt động trên TTCK cũng tăng nhanh về số lượng, và từng bước nâng cao về mặt chất lượng. Đến nay, đã có 75 công ty chứng khoán và 24 công ty quản lý quỹ được cấp phép hoạt động, cung cấp các dịch vụ cho thị trường.  

Thị trường trái phiếu của Việt Nam cũng khá phát triển với nhiều loại trái phiếu (bao gồm trái phiếu chính phủ, trái phiếu chính quyền địa phương, trái phiếu doanh nghiệp và trái phiếu ngân hàng) với tổng dư nợ khoảng 17% GDP. Năm 2005, đợt phát hành trái phiếu Chính phủ đầu tiên của Việt Nam ra thị trường vốn quốc tế đã thành công với giá trị 750 triệu USD, tạo sự khởi đầu hết sức thuận lợi cho Việt Nam trong những đợt phát hành tiếp theo ra thị trường vốn  quốc tế.

Thị trường bảo hiểm đạt tốc độ tăng trưởng nhanh, vững chắc có đóng góp nhất định vào tăng trưởng GDP. Tổng doanh thu ngành bảo hiểm giai đoạn 2001 - 2007 tăng bình quân 30%/năm; năm 2007 doanh thu, chiếm khoảng 2% GDP, tăng hơn 16% so với năm 2006. Tổng số tiền các doanh nghiệp đã đầu tư trở lại nền kinh tế tăng 25% so với năm trước.

Trong những năm vừa qua, thị trường bảo hiểm được định hình vững chắc với đầy đủ các yếu tố thị trường gồm 40 doanh nghiệp bảo hiểm, môi giới bảo hiểm, thuộc mọi loại hình sở hữu với số vốn điều lệ đạt 16.000 tỷ đồng. Chất lượng sản phẩm và dịch vụ bảo hiểm từng bước được nâng cao, phục vụ tốt hơn nhu cầu của nền kinh tế và đời sống dân cư.

Chính sách tài chính thực hiện hội nhập kinh tế quốc tế

Việt Nam đã thực thi cam kết về thuế quan, thuế xuất khẩu, thực hiện đầy đủ Hiệp định xác định trị giá hải quan của WTO, thực hiện chính sách giá theo cơ chế thị trường, mở rộng thị trường dịch vụ tài chính. Việc thực thi các Hiệp định thương mại Việt- Mỹ (BTA), cam kết tự do hoá khu vực CEPT/AFTA, khu vực mậu dịch tự do ASEAN - Trung Quốc (ACFTA) và khu vực mậu dịch tự do ASEAN-Hàn Quốc (AKFTA)  cũng được đảm bảo theo cam kết đã ký.

 Những cam kết liên quan đến mở cửa thị trường dịch vụ tài chính cũng đang được triển khai thực hiện với mức độ mở cửa cao và phạm vi rộng, áp dụng theo nguyên tắc tối huệ quốc với tất cả các đối tác có quan hệ song phương hoặc là thành viên của WTO. 

II. ĐỊNH HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP ĐIỀU HÀNH THỜI GIAN TỚI

Nhằm đẩy mạnh toàn diện công cuộc cải cách kinh tế với mục tiêu tăng trưởng GDP bình quân giai đoạn 2008-2010 là 8,5%, trong thời gian tới, Chính phủ Việt Nam sẽ tiếp tục đổi mới, cải cách khu vực tài chính, thị trường tài chính trên các phương diện sau:

(1) Thực hiện kiểm soát nợ công, phối hợp hài hoà giữa chính sách tài khoá và chính sách tiền tệ, đảm bảo ổn định về kinh tế vĩ mô trong từng thời kỳ. Tạo lập môi trường đầu tư - kinh doanh thông thoáng, cởi mở, tạo điều kiện thuận lợi cho các nhà đầu tư trong và ngoài nước.
Thực hiện cơ chế thị trường về giá có sự quản lý của Nhà nước, tiếp tục xoá bỏ độc quyền tạo điều kiện cho các doanh nghiệp hạch toán đầy đủ và minh bạch, góp phần chống buôn lậu. Có chính sách hỗ trợ cho các đối tượng cán bộ, lực lượng vũ trang, hộ nghèo, đối tượng chính sách để giảm thiểu tác động bất lợi khi giá thị trường tăng.

(2) Đẩy nhanh cải cách khu vực sự nghiệp công lập, nâng cao tính tự chủ của các đơn vị sự nghiệp, thúc đẩy xã hội hoá, huy động nguồn lực cho phát triển các sự nghiệp xã hội. Mở rộng thu hút đầu tư nước ngoài đối với các lĩnh vực sự nghiệp nhằm khai thác có hiệu quả các kênh thu hút đầu tư mới phù hợp với quá trình hội nhập kinh tế quốc tế. 

(3) Tiếp tục hoàn thiện hệ thống chính sách tài chính để huy động và sử dụng có hiệu quả mọi nguồn lực phục vụ cho đầu tư phát triển kinh tế - xã hội.

Tiếp tục cải cách chính sách thuế đảm bảo động viên công bằng, minh bạch và ổn định. Đẩy mạnh cải cách hành chính thuế, đơn giản hoá thủ tục hành chính thuế; hiện đại hoá công tác quản lý thuế, hạn chế thất thu thuế ở mức thấp nhất, nâng cao tính tự giác của đối tượng nộp thuế và hiệu lực của chính sách, đáp ứng yêu cầu thực tiễn và phù hợp với thông lệ quốc tế. 

(4) Đẩy nhanh tiến trình cải cách DNNN, gắn cổ phần hoá với niêm yết, đăng ký giao dịch trên TTCK. Thực hiện cổ phần hoá và niêm yết một số doanh nghiệp, tổng công ty lớn của Nhà nước trong các lĩnh vực ngân hàng, bảo hiểm, viễn thông, điện lực... Tiếp tục cải cách khu vực ngân hàng; nâng cao năng lực tài chính, khả năng canh tranh của các doanh nghiệp bảo hiểm trong nước, mở rộng sự tham gia của doanh nghiệp bảo hiểm nước ngoài theo lộ trình đã cam kết. Mục tiêu đến năm 2010, tỷ trọng doanh thu phí bảo hiểm bằng 4,5% GDP, tổng vốn đầu tư trở lại nền kinh tế tăng 14 lần so với năm 2000. 

Cải thiện môi trường kinh doanh, nâng cao năng lực quản trị doanh nghiệp và cải thiện nguồn nhân lực nhằm thúc đẩy sự tham gia năng động của khu vực tư nhân trong việc phát triển kinh tế. Hoàn thiện các tiêu chí giám sát trong đó có cơ chế cảnh báo sớm đối với doanh nghiệp làm ăn kém hiệu quả.

(5) Hoàn thiện khung pháp lý, thể chế và chính sách, tăng cường công tác kiểm tra, giám sát để thị trường vốn, thị trường chứng khoán phát triển bền vững và lành mạnh, tạo điều kiện để doanh nghiệp niêm yết cổ phiếu trên TTCK khu vực và quốc tế. Nghiên cứu kết nối thị trường chứng khoán Việt Nam với một số sàn giao dịch chứng khoán trong khu vực và cho phép thực hiện niêm yết chéo đối với một số công ty đủ điều kiện.

(6) Xây dựng khuôn khổ pháp lý với các công cụ để giám sát lành mạnh trên cơ sở xây dựng được hệ thống số liệu rõ ràng giúp cho việc đánh giá điều tiết hoạt động của thị trường dịch vụ tài chính.  Hoàn thiện các văn bản pháp lý liên quan tới lĩnh vực dịch vụ tài chính ngân hàng, bảo hiểm, kế toán, kiểm toán... Tăng cường công tác quản lý, giám sát đối với thị trường dịch vụ tài chính, đảm bảo sự phát triển ổn định và bền vững của thị trường trong điều kiện hội nhập.

(7) Thực hiện tốt chiến lược vay và trả nợ nước ngoài theo hướng quy định rõ quyền hạn, trách nhiệm, nâng cao hiệu quả quản lý và sử dụng vốn , bảo đảm khả năng trả nợ, kiểm soát hữu hiệu  các dòng vốn vào, ra tương ứng với khả năng hấp thụ vốn của nền kinh tế. Tổ chức lại việc quản lý nợ nước ngoài bằng một cấu trúc mới hữu hiệu hơn để kiểm soát chặt chẽ vay vốn, bảo lãnh và kế hoạch trả nợ nước ngoài.

(8) Thực hiện đầy đủ các cam kết hội nhập quốc tế trong lĩnh vực tài chính. Tiếp tục bám sát quá trình triển khai các cam kết quốc tế về tài chính trong WTO, ASEAN, APEC về thuế, hải quan, dịch vụ tài chính đồng thời tổ chức thực hiện các nhiệm vụ cần thiết để thực hiện có hiệu quả các cam kết, góp phần đưa nền kinh tế phát triển nhanh và bền vững.

Với chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của Việt Nam trong giai đoạn tới, với chủ trương tiếp tục đẩy mạnh đổi mới nền kinh tế một cách toàn diện đáp ứng yêu cầu hội nhập, tôi tin tưởng rằng Việt Nam chúng tôi sẽ vượt qua những thách thức, tận dụng tối đa tiềm năng để đón bắt cơ hội tiếp tục sự nghiệp phát triển kinh tế của mình./.